Author Archives: Sai Gon xua

Trường trung học Nguyễn Bá Tòng

Một số hình ảnh của trường trong kỷ yếu 1973:

This slideshow requires JavaScript.

- Năm 1956: trường được thành lập mang tên vị Giám mục tiên khởi của Công Giáo Việt Nam có sự trợ giúp đặc biệt của cơ quan  Caritas Germanica Đức Quốc, cơ quan NCWC, Công Giáo Hoa Kỳ. Trường toạ lạc tại số 73-75 đường Bùi Thị Xuân, quận 1 Sài Gòn. Trường có nhiều cấp lớp từ đệ thất đến đệ nhất đủ các môn A, B, A đặt dưới quyền đìều khiển của 8 vị linh mục cùng với sự giáo dục của 160 vị giáo sư, 30 nhân viên văn phòng ( ghi nhận vào năm 1963). Là một trường trung học tư thục nhưng trường được đánh gíá cao trong việc giáo dục, uy tín nhất thủ đô.

- Từ năm 1971: trường chỉ dành riêng cho học sinh nữ

- Từ năm 1975: trường trở thành trường trung học phổ thông công lập và trường được đổi tên thành trường THPT Bùi Thị Xuân, dành cho cả học sinh nam và nữ.

(Tổng hợp)

Categories: Trường học, Địa danh | Leave a comment

Đặng Tuyết Mai – hoa khôi Sài Gòn một thời

      Đã có rất nhiều bóng hồng vây quanh Dinh Độc Lập Sài Gòn dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975, nhưng có lẽ người đàn bà đẹp nhất là Đặng Tuyết Mai – nguyên là phu nhân của “Tướng râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ, nhân vật quyền lực thứ hai trong Phủ Đầu Rồng. 

Image

Đặng Tuyết Mai-hoa khôi Sài Gòn một thời, cựu phu nhân Nguyễn Cao Kỳ

“Hoa khôi Sài Gòn” Đặng Tuyết Mai một trong 4 chiêu đãi viên hàng không đầu tiên

Ngược dòng thời gian để quay về với Sài Gòn những năm 60 của thế kỷ trước. Đây là thời kỳ mà xã hội thượng lưu theo phong trào Âu – Mỹ tràn ngập phố phường, trăm hoa đua nở. Bà Tuyết Mai kể lại chuyện: sự kiện “cô Bắc kỳ nho nhỏ” Đặng Tuyết Mai trở thành một trong 4 tiếp viên đầu tiên của Hãng Air Vietnam trở thành sự kiện nổi đình nổi đám lúc bấy giờ.

Ngày đó, có quá nhiều sự lựa chọn để nổi tiếng đối với một cô gái trẻ đẹp ở tuổi 18-20 như Đặng Tuyết Mai. Được học hành tử tế, được lớn lên trong một gia đình có nề nếp gia phong. Cơ hội có khá nhiều để Tuyết Mai chuẩn bị hành trang vào đời, không phải mỗi con đường độc đạo. Làm bác sĩ, làm nghệ sĩ, du học… nơi nào cũng sẵn sàng mở cánh cửa đón nhận những cô gái trẻ đẹp, đoan trang và thông minh như cô.

Cuộc thi tuyển rất gắt gao, còn hơn cả việc tuyển diễn viên điện ảnh của Hãng phim Mỹ Vân năm 1958 làm rạng danh gương mặt minh tinh Thẩm Thúy Hằng. Cả bốn kiều nữ trúng tuyển đều là những cô gái dáng dong dỏng cao, giỏi hai ngoại ngữ Anh, Pháp và kiến thức xã hội cực kỳ phong phú, hiểu biết nhiều vấn đề trong xã hội. Tuyết Mai cho rằng, cô may mắn được cha mẹ sinh ra có chút nhan sắc và mê đọc sách từ bé nên không chút lúng túng trong phần thi ứng xử tình huống.

Ngay cả khi trúng tuyển rồi, Tuyết Mai còn phải thuyết phục bố mẹ đủ điều các cụ mới miễn cưỡng cho đi làm nghề chiêu đãi viên Hàng không. Ngày đó ngành tiếp viên Hàng không còn quá mới mẻ, trong hoàn cảnh đất nước hai miền có chiến tranh, quan niệm của xã hội phong kiến còn khá nặng nề trong nếp nghĩ của các thế hệ bố mẹ, ông bà. Khác xa thời bây giờ, được làm tiếp viên Hàng không là niềm tự hào và giấc mơ của rất nhiều cô gái trẻ đẹp.

Ngay hôm sau, cả Sài Gòn xôn xao bàn tán về 4 chiêu đãi viên đẹp như tiên giáng trần đầu tiên của Hãng Air Vietnam. Người đẹp, sự kiện nóng hổi mới lạ, tiêu chuẩn cuộc thi rất cao nhưng 4 cô gái đã về đích mỹ mãn…

Từ các quán cà phê đến các CLB không quân, người người bàn tán, bình luận. Lúc đó trên bàn viên chỉ huy không quân Nguyễn Cao Kỳ cũng có một tờ báo đưa tin về “Hoa khôi Sài Gòn Đặng Tuyết Mai” đã khiến hàm râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ co giật nhiều lần và đôi mắt cực kỳ quyến rũ của chàng nghệ sĩ không trung dán chặt vào bức ảnh cô chiêu đãi viên Hàng không là hoa khôi Đặng Tuyết Mai.

Bắt đầu một ngày mới với công việc của một chiêu đãi viên Hàng không quốc tế, Tuyết Mai phải học rất nhiều, rất cần mẫn để có thể thành thục các thao tác chuyên nghiệp trên các chuyến bay, đặc biệt trên các chuyến bay có các nguyên thủ quốc gia xuất ngoại. Nhưng khó khăn đến mấy cô cũng hoàn thành xuất sắc, bạn bè đồng nghiệp và lãnh đạo đều rất quý mến cô.

Sau những chuyến bay đường dài về, cô thường nhớ lời mẹ dặn: “Nhớ ăn học cho đàng hoàng, kiếm tấm chồng để bõ công tôi chăm lo cho cô nhé”. Có lẽ đây là một công việc hệ trọng và khó nhất của tương lai cuộc đời cô. Duyên số là do trời định. Một ngày kia, trên chuyến bay từ Manila – Phi Luật Tân về cô đã gặp “duyên tiền định” của đời mình là “Tướng râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ.

“Mãnh thú” bầu trời và người đẹp hàng không

Image

Đặng Tuyết Mai-đệ nhị phu nhân của Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ

Mặc dù trở về Việt Nam, đã ly dị với “Tướng râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ, đã tìm được hạnh phúc mới cho mình, nhưng Tuyết Mai không bao giờ nói dối lòng về mối tình đầu rất đẹp của đời bà với viên Tướng này.

Nhắc lại chuyện tình với Nguyễn Cao Kỳ, bà Tuyết Mai thổ lộ: “Đến tận bây giờ, dù tình xưa đã tắt nhưng tôi vẫn còn nhớ anh Kỳ có đôi mắt rất đàn ông. Người đàn bà nào nhìn vào cũng sụm chân run rẩy. Tôi cũng từng ngụp lặn trong ánh mắt ấy. Ở anh Kỳ có nét  phong trần, phóng khoáng, ngang tàng, nhưng đầy nghệ sĩ”.

Những kỷ niệm tình yêu đầu tiên bao giờ cũng tinh khôi và rất đẹp. Có người cho rằng tình đầu không phải tình yêu, nhưng tất cả những mối tình về sau đều là biến dạng của mối tình đầu. Tuyết Mai đã yêu người đàn ông lịch lãm có hàm râu kẽm rất đàn ông và nghệ sĩ ngay cái nhìn đầu tiên. Cô đã viết trong hồi ký cho con gái Nguyễn Cao Kỳ Duyên về lần gặp gỡ rất đẹp, lãng mạn ấy.

Cho đến thời điểm tháng  9/1964, Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã qua một đời vợ người Pháp, có 5 người con riêng. Còn Tuyết Mai chỉ có trái tim yêu và yêu, đúng hơn chi là những tình cảm lãng mạn vu vơ tuổi học trò, tuổi mới vào đời nên khoảng trống ấy của trái tim Tuyết Mai đã bị Tướng Kỳ – “một nghệ sĩ giang hồ, một mãnh tướng” trên bầu trời và trên tình trường phát hiện từ cuộc gặp gỡ đầu tiên trên chuyến bay Manila về. Và cơ hội gặp lại trong lần sang Bangkok cũng do Tướng Kỳ sắp đặt, điều động để cơ hội gần hơn, rút ngắn khoảng cách hai trái tim.

Không ai lạ gì, Tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ là một tướng ngông, ngang tàng chẳng vị nể ai. Hàng ngày đi làm ông vẫn dùng trực thăng bay từ nhà riêng trong Bộ Tổng Tham mưu đáp xuống bãi cỏ trong Dinh Độc lập. Chưa kể có nhiều lần Tướng Kỳ đậu trên nóc Dinh ngay phía dưới phòng ngủ của vợ chồng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khiến bà Mai Anh phiền hà lên tiếng.

Cũng không ai lạ gì việc đi thăm, làm việc của Tướng Kỳ với các lực lượng không quân trong phạm vi miền Nam thời kỳ đó, Nguyễn Cao Kỳ đều sử dụng máy bay riêng tự mình lái, thay vì đi ô tô, không an toàn.

Tuyết Mai gặp Tướng Kỳ trên chuyến bay định mệnh từ Manila về Việt Nam. Nguyện vọng đầu tiên của Tuyết Mai là nhờ ông can thiệp để cấp dưới của ông không quấy rối, vì người này đang theo đuổi cô khá cuồng nhiệt. Do cự tuyệt, nên Tuyết Mai đã gặp khá nhiều rắc rối từ người đàn ông này. Vì còn trẻ, còn nhiều tương lai hứa hẹn, cô thật sự hoang mang về sự tán tỉnh, đeo đuổi thái quá của một người đàn ông cấp dưới của Tướng Kỳ.

Sau lần gặp gỡ đó, Tướng Kỳ mời Tuyết Mai đến dự một buổi dạ vũ và căn dặn: “Đêm nay là một đêm đặc biệt, nên tôi yêu cầu người đẹp hãy đặc biệt dễ thương”. Tiệc gần tàn, ông hỏi: “Cô thấy thế nào?”. Tuyết Mai bình thản trả lời: “Vì Thiếu tướng có nêu tính chất đặc biệt của buổi tối nay nên tôi vui vẻ. Nhưng ngày mai không còn là tối hôm nay nữa. Và sự khác biệt của chúng ta không thể nào giải quyết được”.

Ba tuần sau, có lệnh yêu cầu đặc biệt cô Mai đi phục vụ chuyến bay phục vụ đoàn sĩ quan cao cấp Không quân sang Bangkok một tuần lễ tham dự các hoạt động giao lưu, tiếp kiến nhà vua Thái Lan, nhận huân chương danh dự của Không quân Hoàng gia Thái Lan… Trưởng phái đoàn Việt Nam không ai khác: Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Có một cuộc gặp tại phòng ăn khách sạn nơi cả đoàn tá túc, nhiều sĩ quan không quân đã chân tình mời Tuyết Mai ăn chung với anh em, cô khéo léo từ chối vì đã có cuộc hẹn với Smith – Giám đốc Hãng Hàng không B.O.A.C ở Bangkok.

Nhưng định mệnh và ánh mắt đặc biệt của Tướng Kỳ đã làm cô thay đổi quyết định, nhận lời đi cùng xe với Tướng Kỳ làm bộ hướng dẫn đi loanh quanh mua quà. Cả thời gian trên xe, dường như không ai nói được gì nhiều, trái tim của Tuyết Mai như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, như muốn vỡ ra vì tiếng sét ái tình.

Tuyết Mai kể lại, chỉ mỗi câu nói cửa miệng : “Buồn chi lạ” của Tướng Kỳ, đã khiến cô trằn trọc, mơ màng suốt đêm không ngủ được.  Cô đã nhận bó hoa tươi và từ chối một cách lịch sự  người đàn ông xứ sương mù trước mặt các sĩ quan không quân, đang hăm hở lịch thiệp đến đón cô đi dạo cho thỏa lòng mong nhớ từ lâu nay theo đuổi mối tình bóng chim tăm cá.

Cô biết mình đã yêu và thích người đàn ông có hàm râu kẽm kia, chẳng phải vì ông ta là người có quyền lực hay tiền bạc kếch sù. Trái tim có lý lẽ riêng của nó, những lý lẽ mà không dễ gì con người xác định được cân lượng. Với một thiếu nữ đầy kiêu hãnh của tuổi hai mươi, nhan sắc tuyệt vời như Tuyết Mai, thật khó mà biết cô chọn lựa tình yêu bắt đầu từ đâu ngoài sự say đắm, bất chợt.

Cả đêm không ngủ, Tuyết Mai thức dậy trang điểm xong, chờ giờ hẹn với Smith đã khước từ một lần. Nhưng tự nhiên bước chân đưa cô đến bên cửa ban công nhìn xuống dưới sân khách sạn. Cô biết lịch trình các sĩ quan không quân hôm nay, cô đang muốn chờ đợi để ngắm một con người mà cả đêm làm cô thổn thức. Tại sao thế, cô không biết. Con gái thích âm thầm nhìn ngắm người mình yêu mà không cần giải thích vì sao.

Bất chợt có tiếng gõ cửa phòng, cô thừa biết nhân viên lễ tân đến giờ mang bữa điểm tâm phục vụ, cô thờ ơ bảo để đó mắt không rời các sĩ quan không quân tụ tập dưới sân chờ giờ lên xe đi. Tuyết Mai quay lại mở cửa…

Trước mắt cô không phải là nhân viên lễ tân khách sạn bình thường, mà là Tướng Kỳ, trong quân phục Đại lễ của Không quân, áo mũ chỉnh tề, huy chương đeo đầy ngực, đeo kiếm ngắn bên hông trìu mến nói : “Chúc cô Mai ngon miệng nhé”. Tuyết Mai như một người bị thôi miên, đứng chết trân như trời trồng mà không thể mở miệng nói gì được nữa.

Xúc động dâng trào lẫn hạnh phúc, Tuyết Mai mới hoàn hồn lại nói lí nhí mấy lời đúng kiểu cách của một chiêu đãi viên hàng không: “Thưa Thiếu tướng, trong tất cả hình ảnh đẹp và hào hoa nhất về Không quân, dường như hình ảnh một người chỉ huy trang phục chỉnh tề, bê khay đồ ăn là có ý nghĩa nhất. Cảm ơn Thiếu tướng, hình ảnh này mãi mãi không phai mờ trong ký ức của em..”. Nghe xong những lời từ trái tim người đẹp, Tướng Kỳ suốt cả ngày hôm ấy lâng lâng cảm xúc nồng nàn của một tình yêu từ rất lâu rồi ông chưa nghe trái tim mình mách bảo như thế. Đó là người ông đã yêu thật sự.

Image

Đặng Tuyết Mai cùng Nguyễn Cao Kỳ trả lời trước báo giới

Dùng trực thăng đến nơi hẹn hò để ngỏ lời cầu hôn

Image

Bà Tuyết Mai (thứ 2 từ phải qua) cùng phu nhân Tổng thống Mỹ, Philippines

Trong hồi ký của mình, Tướng Kỳ đã viết : “Trong những ngày cuồng nhiệt của nhóm tướng trẻ, tôi không chỉ dính líu vào những cuộc đảo chính và bận bịu với công cuộc tác chiến của không quân mà tôi còn đem lòng yêu thương một người nữa.

Cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi với một phụ nữ Pháp – và chúng tôi đã có 5 đứa con với nhau – đã kết thúc bằng sự ly thân và tiếp theo đó chúng tôi đã ly dị. Sau khi ly dị với vợ tôi, theo lời của một nhà báo, tôi đã hưởng được “hai năm hết sức sôi động của một người có số đào hoa”.

Có lẽ tôi không cần phải đính chính là sự nhận xét trên đã được phóng đại như thế nào và thực ra tôi cũng đã vui chơi nhiều và thoải mái trong lúc bấy giờ bởi vì tất cả chúng tôi đều không biết sống chết ngày nào và cần phải sống vội khi mình được sống”.

Cuộc đời của Tướng Kỳ cũng khá nhiều sóng gió về tình duyện. Khoảng năm 1962, ông chia tay với bà vợ người Pháp sau khi đã có với nhau 5 người con. Trong hai năm trước ngày cưới Tuyết Mai, Tướng Kỳ chán đời nên thường lao vào những cuộc ăn chơi, giải trí sau những giờ căng thẳng công việc. Hơn nữa, Sài Gòn vào những năm cuối đời Ngô Đình Diệm rất phức tạp, rối ren. Các phe cánh đang tranh giành quyền lực, Kỳ được yên bề vì nắm giữ Không quân, nên mọi đối thủ đều rất dè dặt về con người hào phóng, ngang tàng rất máu nghệ sĩ này.

Về phần Tuyết Mai, sau khi trở về nhà. Hôm sau thức giấc, Tuyết Mai được người nhà cho biết sáng sớm có một viên sĩ quan đến nhà gửi tặng hoa hồng phấn – loài hoa mà cô yêu thích nhất cùng một bì thơ. Linh tính mách bảo cô rằng khong ai khác, chính “Tướng râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ.

Trong thư, Tướng Kỳ ngỏ lời mời Tuyết Mai ăn cơm trưa tại nhà hàng Caravelle với “hi vọng những bông hồng này sẽ đem lại chút hạnh phúc nhỏ bé khi đánh thức cô dậy”.

Lúc đầu Tuyết Mai có hàng ngàn ký do để từ chối, nhưng suy nghĩ đắn đo hồi lâu,cuối cùng trái tim mách bảo cô, hãy giả vờ từ chối thôi, và cô nhận lời tự đến nơi hẹn mà không cần đưa đón. Tướng Kỳ cười sáng khoái: “Cô Mai không phải lo.Tôi đến nơi hẹn bằng máy bay. Chúng ta gặp nhau tại cửa thang máy phòng ăn riêng không có ai trên thế gian này nhìn thấy đâu”.

Tuyết Mai trang điểm nhẹ nhàng, cô muốn giữ những nét thật nhất trên khuôn mặt, làn da và sự tươi trẻ hồn nhiên để đến nơi hẹn nhân tình. Tướng Kỳ đã đậu trực thăng trên nóc khách sạn, ngồi đợi cô trong phòng ăn đặc biệt khá lâu.

Giữa không gian ấm cúng và lý tưởng có một không hai của đất Sài Gòn, nơi phóng tầm mắt nhìn thấy bốn phía hòn Ngọc Viễn Đông, men rượu vang tê tái đầu lưỡi và tiếng nhạc thính phòng du dương, Tướng Kỳ đã ngỏ lời cầu hôn Tuyết Mai.

Sau này nhớ lại, cô không thể diễn tả được cảm giác rất đặc biệt và thiêng liêng khi ấy. Cảm giác ấm nóng của bàn tay, làn môi hay lời nói nồng nàn, đa tình của viên tướng cao bồi đã làm cô say đắm vì hạnh phúc.

Bà mẹ Tuyết Mai từng dạy dỗ, mong con gái có tấm chồng đàng hoàng, tử tế đã quyết liệt phản đối cuộc tình của Tuyết Mai. Nhưng đối với Tuyết Mai, việc chênh lệch về tuổi tác, việc lấy chồng đã qua một đời vợ với 5 con riêng không phải là những khó khăn ngăn cản cô bảo vệ tình yêu say đắm và nắm giữ hạnh phúc đời mình.. Chỉ riêng việc nài nỉ, thuyết phục mẹ, Tuyết Mai đã mất khá nhiều nước mắt và sụt cân.

Đám cưới của “Tướng râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ và cô chiêu đãi viên Hàng không Air Vietnam tổ chức tại khách sạn Caravelle vào thàng 11/1964 được coi là sự kiện tâm điểm của báo giới và dư luận Sài Gòn khi ấy. Một đám cưới tổ chức lớn nhất, đông đúc khách mời nhất và tốn kém nhất.

Để chúc mừng hạnh phúc cho Tướng Kỳ, Thủ tướng đương nhiệm Trần Văn Hương đã gởi tặng một món quà là 200.000 đồng tiền mặt, theo Kỳ số tiền ấy cho phép trang trải đầy đủ phí tổn của tiệc cưới tại nhà hàng Caravelle mà “ai ai” quen biết cũng đều được mời dự – trong đó có cả Ngoại giao đoàn và hầu hết bạn bè thân thiết của Kỳ trong lực lượng không quân.

Tướng Kỳ kể lại: “Tướng Nguyễn Khánh đã cho tôi một món quà lộng lẫy – một chiếc xe Ford Falcon cũ, kiểu năm 1960 mà Khánh không dùng nữa vì Khánh đã có một chiếc xe hơi khác của nhà nước. Đây là chiếc xe hơi đầu tiên mà tôi được làm chủ từ trước tới giờ (mãi cho đến lúc đó tôi chỉ luôn luôn lái chiếc xe díp của quân đội cấp cho)”.

Thế là từ đấy, cô tiếp viên hàng không hoa khôi Sài Gòn nhí nhảnh hồn nhiên yêu đời trở thành “Bà Kỳ”, một bước có kẻ hầu, người hạ. Cũng từ ấy, cô dã từ những chuyến bay của Air Vietnam vì mỗi lần bay, tốp cận vệ luôn kè kè bảo vệ, giã từ mọi thứ đam mê thời con gái để học làm “đệ nhị phu nhân” của Việt Nam Cộng hòa.

Cưới nhau xong, tuần trăng mật vẫn còn vương vấn nồng nàn chưa tan, cũng là lúc Hội đồng tướng lĩnh họp lại đồng thuận để Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ tướng, thành lập nội các mới sau vụ ám sát Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu. Tướng Kỳ từ chối mãi không được, cuối cùng đồng ý với điều kiện “tôi phải xin phép vợ tôi đã”.

Và Kỳ về nói với Tuyết Mai: “Phản ứng đầu tiên của vợ tôi là “không được” (không được làm Thủ tướng)”. Lý do? Tướng Kỳ viết: “Vì lúc ấy chúng tôi là cặp vợ chồng mới cưới, chúng tôi không muốn dính líu đến các mưu đồ chính trị. Tuy nhiên, sau khi tôi giải thích cho vợ tôi nghe các sự việc đã xảy ra (về cuộc họp và sự ủng hộ cuồng nhiệt của các tướng lĩnh), vợ tôi đã hiểu và đồng ý với việc tôi quyết định đứng ra thành lập chính phủ. Ngày hôm sau, tôi trở lại phòng họp của Hội đồng Quân lực để xác nhận quyết định này của tôi”.

Dù làm Thủ tướng, nhưng Tướng Nguyễn Cao Kỳ vẫn tiếp tục ở trong căn cứ không quân như cũ, thay vì chuyển đến một khu công thự dành cho mình theo cương vị mới, đó là một nhà lầu ba tầng cách Dinh Độc Lập không xa, khá thuận tiện. Song ông chỉ dùng nơi ấy làm văn phòng, tại đó có sẵn bếp, người phục dịch và phòng ngủ để ông có thể chiêu đãi, hoặc ngủ lại khi công vụ bề bộn.

Tính đến nay, Tướng Kỳ đã có có 3 người vợ, với 6 người con: người vợ đầu là người quốc tịch Pháp, có với ông 5 người con. Khoảng năm 1962, ông đã làm thủ tục ly dị bà vợ này.

Người vợ thứ 2 là bà Đặng Tuyết Mai, ông Kỳ cùng bà Tuyết Mai sinh được duy nhất một người con gái là M.C Nguyễn Cao Kỳ Duyên.

Cho đến 11 năm sau vào ngày 28/4/1975, hai mẹ con di tản sang Mỹ, lúc đó Kỳ Duyên mới 6 tuổi. Còn Tướng Kỳ, ngày 29/4/1975 một mình lái trực thăng bay ra hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đậu ngoài khơi đón người di tản, sang Philippines một thời gian… Họ thất lạc nhau.

Khi tìm gặp lại nhau nơi đất khách quê người với nhiều đổi thay dâu bể của thời cuộc, họ đã chia tay nhau sau 25 năm chung sống với cô con gái chung là Nguyễn Cao Kỳ Duyên.

Người vợ thứ 3, hiện đang sống cùng ông Kỳ có tên là Lê Kim. Còn bà Tuyết Mai hiện đã trở về Việt Nam làm ăn, sinh sống. Hiện bà đang mở một quán phở có tên Phở Ta, tại số 12-14, Lê Quý Đôn, Q3.

 Nam Yên

Categories: Mỹ nhân, Nhân vật | Leave a comment

Trường Trung học Marie Curie (Lycée Marie Curie)

TRƯỜNG TRUNG HỌC MARIE CURIE - 159 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh

Trường Trung Học Marie Curie là một trong những trường trung học lâu đời nhất của Sài Gòn và là trường duy nhất không thay đổi tên ban đầu. Trường được đặt tên theo nhà khoa học người Pháp đoạt giải Nobel tên Marie Curie.

Image

Trường Marie Curie trước năm 1975

Image

Cổng trường Marie Curie ngày nay

Image

Tượng nhà khoa học người Pháp bà Marie Curie trong khuôn viên trường

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH:

Thời Pháp:

Năm 1915: một giáo sư người Pháp tìm mặt bằng và khởi công xây dựng trường.

- Năm 1918: Hòan tất việc xây trường. Thành lập trường Cao đẳng Tiểu học nữ sinh người Pháp (EPS des J.F FranCaises). Trường được dành cho các nữ sinh ngừơi Pháp và một số ítc các nữ sinh người Việt trong các gia đình giàu có và có thế lực. Trong khuôn viên của trường có cả một khu nội trú dành cho học sinh ở tỉnh lên học. Tất cả các môn học đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp. Trường có một ban giám hiệu Pháp quản lý.

- Năm 1939: Trường có 855 học sinh  ( một số lớp sĩ số hơn 48 học sinh ).

- 1941 – 1946: đây là thời gian khó khăn chung của ngàng giáo dục do ảnh hưởng chiến tranh. Học sinh phải học trong điều kiện thiếu thốn mọi mặt.

- Năm 1941: Người Nhật tham chiến ở Đông Dương, các dãy phòng học trở thành bệnh viện dành cho người Nhật.

Trường EPS di dời sang trường mẫu giáo đường Duy Tân ( trường Đại Học Kinh Tế sau này).

- Năm 1942: Trường lấy tên là trường Trung học Cơ sở Calmette (Collège Calmette).

- Ngày 9 tháng 3 năm 1945: Nhật đảo chính Pháp. Trường bị đóng cửa. Trường trở thành trại tập trung lính hải quân người Pháp.

- Năm 1946: Trường đổi tên một lần nữa là Trung tâm Trung học Lucien Mossard (Centre Secondaire Lucien Mossard) với 300 học sinh với 8 lớp từ lớp 6 đến lớp 9.

- Năm 1947 : Trường khai giảng trở lại và hoạt động như một trường tiểu học dưới tên Petit Lycée Calmette.

-  Năm 1948: với quyết định ngày 12/12/1947, trường Trung học nữ sinh Pháp được thành lập dưới tên trường Trung học Marie Curie (Lycée Marie Curie). Trường có 2.500 học sinh, 80 giáo sư và 5 giáo viên tiểu học. Thành lập thêm 2 cơ sở phụ : Lamartine và Colette.

Thời VNCH:

- Năm 1970: Trường Marie Curie phải tiếp nhận các học sinh của trường trung học nam sinh Lê Quý Đôn (tên cũ: trường Jean Jacques Rousseau) do chính quyền Sài Gòn thời bấy giờ lấy lại trường Lê Quý Đôn. Từ đó trường có nhận nam học sinh.

- Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975: Trường Marie Curie được giao lại cho Sở Giáo dục TP.Hồ Chí Minh và chính thức trở thành trường công lập.

- Năm 1997: Trường Marie Curie trở thành trường trung học bán công với tên Trường THPT Bán Công Marie Curie.

Sau năm 1975:

- Năm 2006: Trường chuyển trở lại thành trường công lập với tên Trường THPT Marie Curie. Đồng thời, đồng phục hiện nay là nữ sinh của trường sẽ là váy dài xanh, áo trắng vào các ngày thường, còn thứ 2 đầu tuần và các ngày lễ mặc áo dài, nam mặc quần xanh, áo trắng.

Hiện giờ, cùng với trường THPT chuyên Lê Hồng Phong và THPT Nguyễn Thị Minh Khai, trường Marie Curie là một trong 3 trường THPT có dạy Pháp văn .

DANH SÁCH CÁC HIỆU TRƯỞNG TỪ NĂM 1948 – 1975:

1948-1950:Bà Brissaud

1950-1954:Bà Fortunel

1954-1965:Ông Castagnon

1965-1974:Ông Gages

1974-1975:Ông Thevenin

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC MARIE CURIE TRƯỚC 1975:

Image

Một góc sân trường

Image

Một góc sân trường

Image

Giờ sinh hoạt dưới sân trường

Image

Giờ sinh hoạt dưới sân trường

Image

Giáo sư của trường thời Pháp

Image

Nữ học sinh của trường thời Pháp lúc tan trường về

Image

Nam và nữ học sinh của trường niên khoá 1974 – 1975

(Sưu tầm tổng hợp)

Categories: Trường học, Địa danh | Leave a comment

Những người làm trang phục tuồng

20 năm tận tụy với nghề đủ thấy tình yêu của vợ chồng nghệ sĩ Công Minh dành cho trang phục tuồng là quá lớn.

Con nhà nòi

Trong con hẻm nhỏ trên đường Bạch Vân, Q.5, nghệ sĩ Công Minh tiếp tôi bằng vẻ chân tình, xởi lởi của người Nam bộ. Anh là con thứ 9 của nghệ sĩ Minh Tơ, em ruột của những tên tuổi trên sân khấu Sài Gòn trước giải phóng như: Xuân Yến, Thanh Tòng, Thanh Loan, Xuân Thu. Mẹ Công Minh, nghệ sĩ Bảy Sự, là cô đào hát bội tài sắc Sài Gòn xưa kia. Dượng bảy là nghệ sĩ Thành Tôn (cha của Bạch Lê, Thành Lộc), chú bảy là Khánh Hồng, cha của nghệ sĩ Chí Bảo, cô dượng tám là Bạch Cúc, Hoàng Nuôi – mẹ cha của đạo diễn Phượng Hoàng… Thế hệ con cháu của dòng họ nay là những nghệ sĩ thành danh như Quế Trân, Trinh Trinh, Tú Sương.

Image

Nghệ sĩ Công Minh và cặp lông chim trĩ – Ảnh: Đ.T

Sinh năm 1955 tại Sài Gòn, Công Minh còn nhớ nhiều kỷ niệm với người cha, kép hát bội lừng danh Minh Tơ. “Ngày xưa, nhìn cha và các cô chú diễn, tôi ngấm vào máu cách thiết kế đồ tuồng lúc nào không biết. Năm 10 tuổi, tôi phụ cha đi diễn ở khu Ngã năm Chuồng Chó (Q.Gò Vấp). Diễn xong, ông chở tôi ngồi sau chiếc xe Suzuki cà tàng, phun khói mù mịt về nhà dưới cơn mưa tầm tã. Tôi ngồi co ro ôm quần áo, đạo cụ, lạnh run người. Về nhà, kiểm lại mới hay tôi đã đánh mất bộ râu dài đen nhánh mà ông dùng hóa trang nhân vật Quan Công. Đây là bộ râu ông rất quý. Tôi bị mắng một trận tơi bời”.

Ông nội Công Minh là kép Hai Thắng, người Sài Gòn sống ở thập niên 1940 – 1950 đều biết. Nghệ sĩ Minh Tơ nối nghiệp bằng hàng loạt vai diễn tuồng cổ để đời: Lữ Bố, Dương Tôn Bảo, Quan Công, Cao Hoài Đức, Hoàng Phi Hổ, Bá Lý Hề… Suốt vài thập niên, cho đến tận ngày giải phóng miền Nam, Minh Tơ luôn được khán giả Sài Gòn bình chọn là kép hát bội xuất sắc nhất.

Gìn giữ nghệ thuật bằng nghề may

Công Minh thú nhận, hơn 30 năm trước, lúc còn đi hát anh đã thấy thích trang phục tuồng. Năm 1992, trong một lần thực hiện trang phục cho vở Dương Quý Phi để Saigon Video ghi băng với diễn xuất của nghệ sĩ Lệ Thủy, Công Minh được đánh giá cao. Sau đó, anh làm tiếp phục trang và đạo cụ vở Xử án Bạch Quý Phi do anh Thanh Tòng thực hiện cho Đài truyền hình Cần Thơ. “Đây là thời điểm nhiều video cải lương ra đời nhưng trang phục lại hết sức lòe loẹt, diêm dúa, không theo đúng truyền thống nên tôi “nóng máu” quá, nhảy ra làm. Ở nhà tôi còn đầy đủ từ mũ mão đến trang phục quan văn võ, giáp lính, hia, cả cặp lông chim trĩ, chim bản do cha để lại. Tôi dựa trên nền tảng đó để thiết kế sao cho phù hợp với nhân vật”.

Anh cho biết, ngày trước cha anh phải mua trang phục những vở Hồ Quảng tận tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Riêng cải lương thì xuống tận Tiền Giang đặt các nghệ nhân làng nghề thực hiện phần phục trang. “Đó là nghề gia truyền của đất Nam bộ nhưng rồi dần dần bị thất truyền. Tôi phải tự mày mò thực hiện từng mẫu trang phục tuồng cổ, sử dụng dây tim đèn dầu hỏa, nhuộm màu rồi uốn lượn thành hoa văn trên áo. Vải thì dùng phi bóng, ka tê. Tôi thiết kế mẫu, pha màu nhuộm vải còn ông già vợ và nghệ sĩ Chí Tiên (em ruột NSƯT Bảo Quốc) lo phần may. Thập niên 1940-1950, phục trang cải lương ở Sài Gòn đều do bác Tám Trống cùng Năm Thịt (cha nghệ sĩ Bảo Ly) làm. Sau này, tôi kết thêm kim sa, vẽ kim tuyến lên bộ quần áo để lấp lánh hơn dưới ánh đèn sân khấu”, Công Minh thổ lộ.

Image

Chí Bảo, Thanh Tòng, Linh Châu và Công Minh trong vở Lưu Quan Trương với trang phục do Công Minh thiết kế – Ảnh: NV cung cấp

Hiện cả gia đình Công Minh đều làm phục trang sân khấu. Anh thiết kế, vẽ mẫu, vợ anh – chị Yến Phương may. Hai con gái và các cháu cũng phụ may, kết cườm. “Tôi và vợ đang truyền nghề lại cho thế hệ sau. Tôi không muốn nghề này bị mai một bởi đó không chỉ là may mặc bình thường mà giữ cả cái hồn, nét văn hóa của dân tộc. Cha ông đã để lại cho cháu con di sản đồ sộ về cải lương, về tuồng cổ, mình và thế hệ sau mà không gìn giữ là có tội với tiền bối”.

Ngoài phục vụ trong nước, anh còn xuất rất nhiều bộ trang phục tuồng sang Mỹ, Pháp, Úc, Canada… để nghệ sĩ Việt kiều biểu diễn. “Đó cũng là cách để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mình”, anh nói. Một bộ trang phục tuồng cổ Công Minh thực hiện chỉ có giá từ 700.000 đồng đến 1,5 hay 2 triệu đồng là tối đa, không đắt nếu so với công sức đã bỏ ra. Rồi anh khoe với tôi 2 bộ lông chim trĩ, chim bản của cha để lại, giờ cực khó kiếm: “Muốn làm trang phục tuồng cổ, hát bội bắt buộc phải có lông chim này đính lên mão”.

Gia đình có đến 5 đời làm nghệ thuật, nổi danh Sài Gòn xưa và nay nhưng Công Minh không khỏi ngậm ngùi khi cải lương, hát bội dần ít được giới trẻ quan tâm. “Thôi, còn giữ được cái gì thì cố giữ. Sài Gòn mà mất đi cải lương thì khó mà hình dung ra nét văn hóa của vùng đất này”, anh tâm sự.

Phải gắn với lịch sử

Công Minh nói, nếu anh không làm, nghề này chắc chắn sẽ mất đi. Anh còn dành tặng nhiều bộ trang phục tuồng đẹp nhất cho Bảo tàng TP.HCM với mong muốn: “Con cháu mình sẽ nhìn vào đó để hiểu thêm về lịch sử sân khấu VN cách đây vài thập kỷ cho đến tận hôm nay. Tôi từng phá vỡ hình ảnh Hai Bà Trưng mặc áo dài khăn đóng, cưỡi voi xông trận, hay tướng Tô Định của Tàu kết tóc đuôi sam như trên một số tuồng trước đây đã làm. Thời Hai Bà Trưng làm gì có áo dài khăn đóng và tóc đuôi sam chỉ đến đời nhà Thanh thế kỷ 17 mới xuất hiện. Trang phục tuồng cổ phải gắn liền với lịch sử. Làm sai lệch sẽ bị khán giả phát hiện ra ngay”.

Đỗ Tuấn (Báo Thanh Niên)

Categories: Con người, Đời sống | Leave a comment

Nửa thế kỷ thiết kế sân khấu

Họa sĩ khiêm nhường

Ông cười nói rõ nếu lấy nghệ danh Thiên Tài sợ người ta nói mình “lối” nên phải thêm vào họ Trịnh như tên trong khai sinh luôn. “Sau này đi vẽ pa nô, bảng hiệu sân khấu, tôi chỉ lấy biệt danh T3, tức Trịnh Thiên Tài và chỉ những người trong giới biết thôi”.

Cha của họa sĩ Thiên Tài là soạn giả, nhà giáo nổi tiếng của Nam kỳ: Trịnh Thiên Tư, người từng viết sách Cổ nhạc Nam phần, Ca nhạc cổ điển điệu Bạc Liêu từ những năm đầu thập niên 1960.

Image

Họa sĩ Thiên Tài – Ảnh: Đ.T

“Ngày nhạc sĩ Cao Văn Lầu qua đời, cha tôi kêu gọi anh em nghệ sĩ ở Sài Gòn giúp đỡ cho gia đình nhạc sĩ. Ông gặp ký giả Bảy Cao, nói báo phải có một bài rất xúc động về cuộc đời người đã đặt nền móng cho vọng cổ miền Nam với bài Dạ cổ hoài lang nổi tiếng. Ký giả Bảy Cao sau đó đã viết bài rồi mang tiền của nghệ sĩ đến gia đình nhạc sĩ tận Bạc Liêu – cũng là quê tôi. Hậu tổ – nhạc sư Hai Khị (thầy của nhạc sĩ Cao Văn Lầu) là anh ruột của bà nội tôi, cũng là người góp phần làm nên khúc vọng cổ xưa. Nhà sư Thích Thường Chiếu rất am tường nhạc lễ, ông có công hỗ trợ lời ca, tiếng hát cho ca cổ Bạc Liêu nói riêng và miền Nam nói chung. Năm 1935, cha tôi đặt tên bài Dạ cổ hoài lang thuộc thể loại “vọng cổ” với ý nghĩa “trông về truyền thống xưa”. Bài vọng cổ xuất phát từ Bạc Liêu là như thế”, họa sĩ Thiên Tài cho biết. Ông nói thêm, giờ đây tên hậu tổ Hai Khị, sư Thích Thường Chiếu, ông Trịnh Thiên Tư đều được đặt tên đường ở thị xã Bạc Liêu để tưởng nhớ công ơn những người hợp cùng nhạc sĩ Cao Văn Lầu tạo ra bài vọng cổ ban đầu chỉ 2 nhịp. Sau này, bài vọng cổ được nhiều nhạc sĩ miền Nam chuyển thành 4, 8 nhịp, rồi 16 nhịp để bây giờ đến 32, 64 nhịp.

Năm 1960, họa sĩ Trịnh Thiên Tài lên Sài Gòn học tại Trường Sư Vạn Hạnh và nộp đơn thi vào Trường Mỹ thuật Gia Định. Ông đậu ngành điêu khắc rồi làm nghề vẽ tranh, vẽ pa nô, nặn tượng sau khi tốt nghiệp. Trước 1975, ông từng đoạt nhiều giải thưởng về văn học nghệ thuật. Đến năm 1981, ông chính thức gắn bó với sân khấu, phim ảnh bằng nghề họa sĩ trang trí mỹ thuật.

Thủy chung với nghề nghiệp

Ngày hòa bình, Trịnh Thiên Tài đưa vợ con đi kinh tế mới tận Tân Hòa Tây, Cai Lậy, Tiền Giang. “Chịu không nổi, được 5 năm tôi phải mò về Sài Gòn kiếm sống. Tôi chỉ biết cầm cọ mà lúc đó phải cầm cuốc, cầm cày làm sao nuôi vợ con được. Về thành phố, không nhà, tiền mua chiếc xe đạp đi làm còn không có, tôi phải cuốc bộ”, ông nhớ lại.

Vậy mà ông vẫn kiên trì nhận từng tấm pa nô quảng cáo về nhà trọ ngồi vẽ. Lâu dần, thấy biệt tài của ông, nhiều ông bầu gánh cải lương bắt đầu tìm đến. “Tôi vẽ quảng cáo cho các đoàn huyện đến tỉnh, rồi Sài Gòn như Kim Giác, Bảo Long, đoàn của bầu Tấn, Thanh Tú – Trang Bích Liễu, Trọng Nhân, bà bầu Thắm… rồi đoàn cải lương Sài Gòn 2, Sài Gòn 3, Trần Hữu Trang. Nhờ thế mà đời sống đỡ dần lên, con cái có tiền đi học. Tôi ra tận Q.Tân Phú bây giờ mua miếng đất, lúc đó xung quanh chỉ là ruộng lúa, ao rau muống, dựng tạm cái nhà lá để ở. Bây giờ vùng này sầm uất, nhà cửa san sát, đường sá chằng chịt”.

Tính đến nay, họa sĩ Trịnh Thiên Tài đã thiết kế mỹ thuật cho hơn 200 phim cải lương tuồng cổ. Ông là người đầu tiên vẽ hình nghệ sĩ cải lương lên băng rôn treo trước rạp hát và dọc các con đường ở Sài Gòn. “Trước tôi, nhiều họa sĩ vẽ quảng cáo bảng hiệu chỉ viết tên vở diễn kèm tên nghệ sĩ thôi. Tôi mạnh dạn vẽ gương mặt Bạch Tuyết, Kim Thoa, Ngọc Huyền… lên băng rôn. Ai nhìn cũng khen đẹp và thích lắm. Từ đó, ở Sài Gòn mới có phong trào vẽ hình nghệ sĩ lên bảng quảng cáo. Ban đầu tôi vẽ bột màu pha a dao trên vải bố. Sau đến sơn nước, rồi sơn dầu phủ dạ quang, dùng vải may quần tây loại dày để vẽ, chống ánh sáng xuyên qua”, họa sĩ say sưa nói.

Image

Nghệ sĩ Thanh Tòng và Hà Phương trong một vở cải lương do họa sĩ Thiên Tài thiết kế sân khấu – Ảnh: NV cung cấp

Nổi tiếng trong giới sân khấu, họa sĩ Thiên Tài được nhiều đoàn phim mời về cộng tác. Ông làm thiết kế mỹ thuật phim truyền hình đầu tay là Công tử Bạc Liêu, rồi Cuộc phiêu lưu kỳ thú, Trái tim mùa đông, Kính vạn hoa, Cha dượng, Hương cỏ dại… Chưa hết, ông còn vào vai phụ trong một số phim như Kính vạn hoa, Hương cỏ dại, Cổ tích VN… Vì có tài điêu khắc nên họa sĩ Thiên Tài được giới tổ chức chương trình đặt cho biệt danh là “vua mốp” bởi ông có thể cắt gọt ra đủ thứ từ cái bàn, cái ghế đến ô tô, thậm chí máy bay trực thăng. “Live show Đan Trường cách đây hơn 10 năm tôi đã làm một chiếc trực thằng bằng mốp có chong chóng quay hẳn hoi, bay trên Nhà thi đấu Phan Đình Phùng, khán giả thích lắm. Tôi còn thiết kế sân khấu, đạo cụ nhiều live show cho Kim Tử Long và nhiều nghệ sĩ khác nữa”, ông cười.

Tài hoa nhưng không vì thế mà làm ra vẻ ngôi sao để nâng giá, họa sĩ Thiên Tài được nhiều người trong giới quý mến là vì thế. Ông làm việc rất có trách nhiệm. “Không bao giờ tôi nhận hợp đồng rồi giao cho đệ tử làm. Chính tay tôi vẽ từng tấm bảng hiệu, chế tác từng món đạo cụ. Mình làm việc ngoài chuyện kiếm tiền còn uy tín, danh dự nữa”.

Tuổi 71 đến với ông giữa bộn bề công việc. “Tôi đang làm thiết kế mỹ thuật cho phim Khúc Nam Ai, dài 30 tập, do Hồ Ngọc Xum đạo diễn. Tuổi này còn bận rộn như thế là vui rồi, tôi không mong gì hơn”.

Họa sĩ Thiên Tài có 6 người con cả trai lẫn gái. Tất cả đều theo nghề của cha, người là họa sĩ thiết kế mỹ thuật cho phim, người theo con đường hội họa và một con gái theo đoàn phim, trang điểm, hóa trang cho diễn viên. “Tôi chỉ mong nước mình có được một phim trường đúng nghĩa với cây cối, sông suối, ao hồ… để họa sĩ thiết kế mỹ thuật làm việc, chứ không phải dùng nhà kho cũ chứa đạo cụ gọi là phim trường như hiện nay. Sài Gòn là vùng đất lành. Người Sài Gòn tốt bụng lắm, lấy nghĩa tình mà sống với nhau. Dù cải lương xuất phát từ miền Tây Nam bộ nhưng Sài Gòn mới là nơi làm cho nó thăng hoa. Mong sao cải lương vẫn còn mãi trong lòng người Việt và người Sài Gòn”.

Đỗ Tuấn (Báo Thanh Niên)

Categories: Con người, Đời sống | Leave a comment

Nghệ sĩ khẩu cầm cuối cùng

Khán giả Sài Gòn xưa và nay hẳn khó quên tiếng khẩu cầm (harmonica) điệu nghệ, mượt mà, sâu lắng của nghệ sĩ Tòng Sơn.

Thoát nạn nhờ… kèn

16 tuổi, tình cờ Tòng Sơn nhặt được cây khẩu cầm của lính Pháp sau một trận càn vào làng quê ông ở Vĩnh Long. Ông nào ngờ định mệnh đã gắn chặt đời mình với nó suốt 67 năm. “Thời đó tìm khắp miền Nam chẳng ai biết sử dụng harmonica lấy đâu mà học? Tôi bèn mày mò, tự tập thổi và tìm hiểu về nhạc lý”, ông nói trên căn gác gỗ của ngôi nhà trên đường Trần Hữu Trang.

Nhà nghèo, 18 tuổi, ông bôn ba lên Sài Gòn học việc tại xưởng sản xuất máy đánh chữ của một ông chủ người Việt hồi hương từ Campuchia. Nơi ông làm việc ngày nay là con đường Phan Chu Trinh, cạnh chợ Bến Thành. Mỗi lúc nhớ nhà, nhớ quê, ông lại lôi kèn ra thổi. Âm nhạc giúp ông thoát khỏi sự phiền muộn vì chuyện cơm áo.

Năm 1950, ông dự cuộc thi Tuyển lựa tài tử do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức và đoạt giải cao với cây khẩu cầm. “Sơn là tên ông già, còn tôi tên thật là Dương Ngô Tòng. Tôi ghép tên tôi và tên cha thành nghệ danh Tòng Sơn đi thi vì rủi có rớt thì không ai biết, để đỡ quê. Ai dè đậu liền, mà còn đậu cao nữa chứ. Từ đó, ban ngày đi làm, tối về tôi đi diễn, kiếm thêm tiền lo cho gia đình ở quê”, ông cười.

Đây cũng là thời điểm Tòng Sơn làm thêm nghề chế bản tại một xưởng in trên đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng). “Tôi sáng dạ, chỉ một biết hai, ba nên làm gì cũng nhanh. Ông chủ hãng làm máy đánh chữ quý tôi lắm. Thời đó, trong chiến khu các chiến sĩ cách mạng rất cần máy đánh chữ có dấu để làm việc. Tôi và người bạn âm thầm chuyển máy đánh chữ lên tận Phú Văn (Thủ Dầu Một) rồi dùng xe thổ mộ ngụy trang rau muống bên trên đưa vào rừng cung cấp cho cách mạng”.

Rất nhiều máy đánh chữ đã đến tay quân ta ngày ấy. Năm 1951, đúng vào ngày giỗ đầu liệt sĩ Trần Văn Ơn – bị Pháp bắn ở Sài Gòn, thình lình mật thám xông vào xưởng in, nơi ông đang làm việc còng tay, đưa lên xe bít bùng chở về đồn. Đường dây đưa máy đánh chữ vào chiến khu bị bể. “Mật thám Pháp đánh tôi dã man để moi thông tin. Chúng chuyển tôi đến Đồn công an Đa Kao trên đường Mạc Đĩnh Chi bây giờ rồi giải qua khám lớn ở đường Catinat (Đồng Khởi), ngay vị trí của Sở VH-TT và DL TP.HCM ngày nay. Được vài tháng, tôi lại bị chuyển đến Đồn Cây Mai (Q.11), sau đó là Trại giam Gia Định rồi Thủ Đức. Những năm tháng ngồi tù khổ lắm. Mỗi ngày tôi chỉ được phát cho 4 lon nước để vệ sinh và ăn uống”.

Image

Nghệ sĩ Tòng Sơn bên cây khẩu cầm – Ảnh: Đ.T

Trong hồ sơ ghi nghề nghiệp là thợ in nên mật thám Pháp chuyển ông lên tận Bình Dương để làm việc cho Bureau (Phòng Nhì – Cơ quan tình báo Pháp). “Những ông Tây làm việc ở đây nói tiếng Việt còn giỏi hơn một số người Việt nữa. Biết tôi thổi kèn hay, vài cai ngục bắt tôi biểu diễn. Nhờ vậy, tấm thân đỡ cơ cực hơn”, Tòng Sơn nói ông chưa bao giờ kể đoạn đời này, tính sống để bụng, chết mang theo.

Còn lần thứ 2 cũng nhờ cây kèn mà Tòng Sơn “khỏe tấm thân”. Đó là thời điểm Sài Gòn được giải phóng, nghệ sĩ miền Nam cũng phải đi học tập ngắn ngày để đả thông tư tưởng, anh cán bộ quản giáo người Sài Gòn nhận ngay ra ông nên “ưu ái”, chỉ cho ông làm việc nhẹ để dành sức… thổi kèn.

Làm từ thiện dù sống lang bạt

“Ngày xưa lượm được cây kèn mày mò học để lấy le bạn gái. Vậy mà nhờ nó tôi thành danh, được khán giả yêu thích đến tận hôm nay”, ông tự nhận. Ngoài tiếng kèn độc đáo mấy mươi năm qua, Tòng Sơn còn nổi tiếng với nhiều trò “độc” như: vừa ăn chuối, uống bia vừa thổi kèn bằng mũi, thổi một lúc 2 kèn với 2 tông nhạc khác nhau…

Ông chỉ buồn một điều là dù đã dạy cho hàng trăm học trò nhưng chẳng ai nối nghiệp ông, thổi khẩu cầm đạt đến trình độ quốc tế. “Cuộc đời nhiều lúc oái oăm lắm. Muốn truyền nghề lại không tìm ra trò. Cũng như tôi từng này tuổi, vẫn ở nhà mướn mà thường xuyên biểu diễn từ thiện gây quỹ giúp người nghèo xây nhà”.

Tòng Sơn năm nay đã 83 tuổi nhưng trông ông trẻ thật, cứ như ngoài 50. Ông bảo nhờ mình yêu đời, yêu nghề, sống vui khỏe nên tuổi già cứ mãi quay lưng. Ông lập gia đình năm 1961, có đến 10 người con, chia tay vợ năm 1993 và sống đơn côi từ ngày đó đến nay. “Đêm diễn về, tôi lủi thủi một mình nhiều lúc cũng thấy buồn nhưng cuộc đời mình đã chọn như thế thì đành chịu. Tôi từng được chính phủ Mỹ cấp thẻ ID nhưng sang đó chỉ để biểu diễn, thăm gia đình chứ xa mảnh đất Sài Gòn tôi nhớ lắm”, ông cho biết.

67 năm thủy chung với cây kèn. Từng bôn ba khắp đất nước, nhiều lần sang nước ngoài, lên cả hàng không mẫu hạm USS Enterprise năm 1965 biểu diễn, nghệ sĩ Tòng Sơn nói ông hoàn toàn mãn nguyện với những gì cuộc đời đã dành cho mình.

“Được diễn, được khán giả mến mộ là hạnh phúc lớn nhất. Còn lại, danh hiệu nghệ sĩ ưu tú hay nghệ sĩ nhân dân tôi chẳng mong đợi gì dù đã ở tuổi gần đất xa trời. Đời nghệ sĩ sau cùng là đem lại niềm vui cho công chúng. Với tôi thế là đủ”. Ông thổ lộ cả đời lang bạt quá nên giờ chẳng có căn nhà. “Cát sê chỉ vài trăm ngàn, đủ đắp đổi qua ngày, làm sao có dư. Mà thôi, vậy cũng vui. Còn sức khỏe, tôi còn thổi kèn. Tiếng kèn đã gắn chặt đời tôi với mảnh đất này từ rất lâu rồi”.

Nghệ sĩ Tòng Sơn từng nhận kỷ lục Người có phong cách biểu diễn khẩu cầm độc đáo nhất VN do Trung tâm sách kỷ lục VN trao năm 2005, danh hiệu Nghệ sĩ biểu diễn harmonica ấn tượng nhất (2006) do Đài truyền hình VN tặng. Ông đã phát hành 4 CD với đĩa mới nhất mang tên Vì đó là em (2012).

Đỗ Tuấn (Báo Thanh Niên)

Categories: Con người | Leave a comment

Họa sĩ có trái tim bên phải

Tuổi 80 đến với họa sĩ Phan Phan nhẹ nhàng, dường như khiến ông chẳng bận tâm suy nghĩ bởi ông có quá nhiều việc còn phải làm.

Trong con hẻm sâu trên đường Trần Đình Xu, ông chậm rãi nói về mình. Giọng miền Nam chân chất, họa sĩ Phan Phan kể ông sinh tại Bến Tre nhưng lại thành danh ở đất Sài thành. “Mới 3 tuổi đã mất mẹ nên ngày còn bé tôi không thiếu vị đắng. Hơn 10 tuổi đầu, tôi phải thức dậy từ 4 giờ sáng, đội thùng cà rem, lội bộ 11 cây số đến bến phà Rạch Miễu bán tối mịt mới về”, ông Phan nhớ lại.

Rồi ông tiết lộ một điều khiến tôi tròn xoe mắt ngạc nhiên. “Hồi nhỏ, một lần bị bệnh, bác sĩ khám phát hiện tôi là người có ngũ tạng trái ngược. Tim, lá lách thì bên phải còn gan lại bên trái. Chắc nhờ ngược đời như vậy mà tôi sống lâu đến hôm nay”.

Năm 1953, Trường Mỹ thuật Gia Định tuyển sinh, ông thích quá xin gia đình nộp đơn thi vào. Với tài vẽ tuyệt đẹp, ông đỗ thủ khoa. “Thầy Bùi Kỉnh dạy lớp Section Préparatoire (dự bị) đã truyền cho tôi tình yêu hội họa để có đủ tâm lực theo nghề. Thầy Kỉnh có biệt danh “độc thủ đại hiệp” do chỉ còn 1 tay trái. Thầy tham gia biểu tình chống Pháp khi Trần Văn Ơn bị bắn. Mật thám Pháp bắt, tra tấn, treo thầy lên giàn giáo, cánh tay phải bị hoại tử phải cưa bỏ. Chỉ còn tay trái nhưng thầy vẽ cũng rất tài tình lại truyền thêm cho chúng tôi lòng yêu nước”, họa sĩ Phan nhớ lại.

Image

NSND Phan Phan – ẢNH: Đ.T

Nghệ sĩ thiết kế sân khấu tài danh

Ngay khi đang là sinh viên, họa sĩ Phan Phan đã kiếm ra tiền bằng công việc vẽ truyện tranh cho các nhật báo ở Sài Gòn. Một bộ truyện ông nhận 4.500 đồng trong khi tiền ăn ở trọ chỉ tốn 450 đồng/tháng nên dù gia đình “cắt viện trợ” ông vẫn sống khỏe re.

Ra trường ông làm đủ thứ nghề: họa sĩ trang trí quảng cáo, thiết kế hội chợ. Lần làm sân khấu cho đoàn ca nhạc Nhật Bản sang Sài Gòn dự hội chợ ở Thị Nghè năm 1959, ông đã học lóm được rất nhiều điều, làm nền tảng cho sự nghiệp thiết kế sân khấu đồ sộ sau này. Có thể nói, sau những bậc đàn anh thiết kế sân khấu ở Sài Gòn thập niên 1950 rồi 1960 như Loka, Lê Viên hay Mười Rây thì Phan Phan là cái tên xứng đáng nhất.

Cơ duyên đưa đẩy ông đến với sân khấu bắt đầu từ mối tình của một “đại gia” với nghệ sĩ Thanh Nga! “Con bà Bút Trà, chủ bút tờ Sài Gòn mới là cậu Năm Thành mê cô đào Thanh Nga lúc đó. Để mua lòng người đẹp, Năm Thành đặt tôi thiết kế sân khấu cho vở diễn Thầy cai tổng Bồi của tác giả Lư Hòa Nghĩa (tức Năm Nghĩa, cha của NSƯT Bảo Quốc – PV). Vở diễn thành công, tôi theo nghề từ đó”.

Nói đến sân khấu Sài Gòn ông thuộc làu, như một bộ tự điển sống bởi ông gắn bó với nó cả đời. “Ngày xưa, trong một đoàn hát thì soạn giả, thầy tuồng – đạo diễn bây giờ – và cả ông bầu là một. Bà bầu Thơ, chủ gánh hát Thanh Minh “kết” tôi sau thành công của vở Thầy cai tổng Bồi kêu tôi về làm. Thực hiện mô hình sân khấu cho vở mới, bà bầu Thơ xem xong gật đầu cái rụp, hồn vía tôi lên mây vì chẳng biết làm sao triển khai ý tưởng. Tôi lặn lội lên tận Gò Vấp, tìm ông thợ mộc chuyên về đạo cụ cho đoàn phim để làm phông nền sân khấu tại rạp Nguyễn Văn Hảo (rạp Công Nhân). Đến khi mọi thứ thành hình, anh em hậu đài vừa làm vừa rủa vì quá nặng, khó di chuyển. Hôm sau tôi phải dẫn anh em ra ăn bún mắm ở “ngã tư quốc tế” (góc Bùi Viện – Đề Thám ngày nay) để rút kinh nghiệm. “Ngã tư quốc tế” là nơi anh em nghệ sĩ, ký giả Sài Gòn thời trước tụ tập. Chuyện gì trong làng cũng đều “khui hàng” chỗ này”, ông Phan cười khà khà.

Tiếp theo vở Thầy cai tổng Bồi, họa sĩ Phan Phan thiết kế sân khấu cho rất nhiều vở cải lương nổi danh ở Sài Gòn như Rồi 30 năm sauNỗi buồn Thu Thảo (tác giả Hà Triều – Hoa Phượng), Vụ án song hôn (Hoàng Khâm), rồi các vở của đoàn kịch nói Kim Cương, Dạ Lý Hương, Kim Chưởng… “Giờ ngồi đếm không tài nào nhớ hết, có đến vài trăm vở tôi đã làm”.

“Những ngày đầu thống nhất, chỉ có đoàn Thanh Minh-Thanh Nga được nhà nước cho phép hoạt động sớm nhất. Bà bầu Thơ gọi tôi về ngay. Lúc đó sân khấu miền Nam chịu ảnh hưởng của phong cách thiết kế phía bắc, mang tính ước lệ, đơn giản. Tôi làm 2 vở Hoa Mộc Lan tùng chinh và Tấm lòng của biển bị thất bại thảm hại. Đến khi dựng sân khấu cho vở Trận tuyến thầm lặng của đoàn cải lương Trung Hiếu, tôi mạnh dạn sửa thiết kế của họa sĩ Lương Đống để rồi làm nên phong cách riêng, bớt rườm rà, đặc tả của miền Nam hay đại khái của miền Bắc mà thay vào đó là sự hòa quyện giữa tính ước lệ và tả thật. Phong cách đó sau này được báo chí gọi là cách điệu”, Phan Phan nói say sưa. Ông nhận danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú năm 1997 và Nghệ sĩ Nhân dân năm 2007.

Giờ ở tuổi 80 ông vẫn làm việc sau khi về hưu năm 1995, “không hẳn vì cơm áo mà thiếu nó tôi chịu không nỗi, quen rồi! Tôi đang làm sân khấu cho 2 vở: Trên cả trời xanhCạm bẫy và trừng phạt”. Hỏi ông mong ước gì cho nghề nghiệp, giọng ông chợt buồn: “Thành phố phát triển, nhà hàng, khách sạn, cao ốc mọc lên như nấm mà kiếm không ra một nhà hát tầm cỡ để nghệ sĩ có cơ hội làm nghề. Đến giờ chẳng thấy nơi đâu ở Việt Nam có bảo tàng lưu giữ dù chỉ là những mô hình thiết kế sân khấu. Thế hệ con cháu mình sau này muốn biết ông cha chúng đã làm sâu khấu như thế nào trong thế kỷ 20 thì tìm ở đâu?”.

Đỗ Tuấn (Báo Thanh Niên)

Categories: Con người | Leave a comment

Lên đời cùng tiểu thuyết Kim Dung

Người Sài Gòn mê truyện chưởng Kim Dung khó mà quên nét vẽ tài tình của ông trên bìa sách. Ông thú nhận nhờ vậy mới có tiền nuôi vợ, nuôi con.

Image

Họa sĩ Lê Minh và vợ – Ảnh: Đ.T

Thế hệ đầu tiên vẽ tranh trên báo

Làng báo Sài Gòn thập niên 1950-1960 gần như rất hiếm họa sĩ vẽ tranh minh họa và tranh vui. Ngoài cây cọ tài danh Lê Trung, người còn lại là họa sĩ Lê Minh, sinh năm 1937, tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Gia Định năm 1957. 17 tuổi, ông vừa học vừa vẽ tranh minh họa cho loạt truyện Hoa Lư động chúa đăng trên nhật báo Dân ta. “Người Sài Gòn thời đó gọi là truyện feuilleton, mỗi ngày ra một kỳ kèm theo tranh minh họa. Ngày xưa tôi phải vẽ trên giấy decal, người làm bản kẽm mới đặt giấy đó trên gỗ rồi dùng dao khắc từng chi tiết, rất kỳ công.

Hôm nào tôi vẽ nhiều ô vuông nhỏ là bị mắng mỏ bởi thợ khắc gỗ làm quá khổ”, ông nhớ lại.

Mất cha năm 16 tuổi, Lê Minh và người chị gái sống với mẹ. Bà tảo tần nuôi con bằng gánh hàng hoa mua từ chợ Gò Vấp mang về bán tại chợ Bà Chiểu. “Thương mẹ nên tôi biết lo thân từ tấm bé. Ngày tôi thi đậu vào trường mỹ thuật, ba mẹ đều rơi nước mắt. Tôi thường xuyên đi học trễ vì đêm nào cũng thức đến 2 giờ sáng vẽ tranh cho báo. Có lần, báo Sài Gòn mới đặt tôi vẽ gấp bức tranh vui cho số báo ra sáng mai. Tối đó, làm việc đến 3 giờ sáng tôi mệt quá ngủ gục, tay quơ đổ lọ mực tàu trên bàn ướt nhẹp bức vẽ. Hoảng hồn, sáng sớm tôi vội vã đạp xe đến tòa soạn báo tin cho chủ báo Bút Trà và bị la một trận nhớ đời. May mà tòa soạn thay bằng bản tin khác. Thời sinh viên, tôi ngập đầu trong công việc nhưng cũng nhờ đó mà kinh tế gia đình khấm khá hẳn lên. Tôi còn sắm cho chị gái cái máy may để học nghề và sinh sống sau này”, ông kể.

Vẽ minh họa, sắm xe hơi

Đầu thập niên 1960, Sài Gòn tràn ngập truyện chưởng Kim Dung. Nhiều tờ báo bắt đầu trích đăng lại với dạng feuilleton. Lúc đó, họa sĩ Lê Minh được biết đến sau rất nhiều tranh minh họa trên các báo Phụ nữ diễn đàn, Phụ nữ ngày mai, Đẹp…, đặc biệt qua các bức vẽ thiếu nữ. Nhiều nhà xuất bản (NXB) như Thế Kỷ, An Hưng, Trung Thành, Hương Hoa, Sống Mới, Tấn Phát… phát hành truyện Kim Dung săn tìm ông đặt vẽ bìa. “Rất nhiều tác giả dịch truyện Kim Dung như Tiền Phong Từ Khánh Phụng, Đồ Mập, Vũ Tài Lục, Hải Âu Tử… nhưng chẳng hiểu sao phải là Hàn Giang Nhạn chuyển ngữ còn tôi vẽ bìa, sách bán mới đắt hàng. Tôi được trả 2.000 đồng cho một bức vẽ bìa. Giá này là cao so với thời đó”, họa sĩ Lê Minh thú nhận.

Vẽ bìa truyện chưởng Kim Dung theo họa sĩ Lê Minh cần tuân thủ một số nguyên tắc mà các NXB quy ước để thu hút độc giả: phải có hình thiếu nữ, vẽ tranh động, không đơn điệu. Giai đoạn này, Sài Gòn cũng có vài họa sĩ vẽ bìa truyện chưởng như Đỗ Phi, Cảnh Thế nhưng nét vẽ không thể so với Lê Minh.

Qua12 năm làm bìa truyện chưởng, Lê Minh nhớ mãi lần vẽ bìa cuốn Tiếu ngạo giang hồ. NXB đặt ông thực hiện gấp bìa có nhân vật Vạn lý độc hành Điền Bá Quang mê ni cô Nghi Lâm. Chưa kịp đọc kỹ bản thảo, nghĩ Điền Bá Quang là kẻ hắc đạo, nhân vật phản diện nên Lê Minh phóng bút vẽ một người hung dữ, đầu tóc râu ria xồm xoàm. Đến khi in bìa xong, ông chủ NXB than trời. “Té ra, Điền Bá Quang trong Tiếu ngạo giang hồ là bạn với Lệnh Hồ Xung. Người thư sinh trắng trẻo, mày râu nhẵn nhụi. Ông chủ NXB kêu trời: Vẽ như vầy là chết tôi rồi”, họa sĩ Lê Minh cười vang.

Ngoài tài vẽ tranh truyện chưởng, họa sĩ Lê Minh còn vẽ tranh tứ bình (truyện 4 cột kèm tranh minh họa, rất được ưa chuộng vào những năm 1950-1960 ở Sài Gòn) kể về những điển tích như Sự tích trầu cau, Bao Công kỳ án, Phạm Công Cúc Hoa, Lâm Sanh Xuân Nương… Ông cũng minh họa nhiều tiểu thuyết của bà Tùng Long, Nguyễn Ngọc Mẫn, Dương Hà…

“Từ số tiền dành dụm qua bao năm vẽ truyện tranh, đặc biệt là bìa truyện chưởng, tôi thành lập tờ báo Em, phát hành tại Sài Gòn những năm 1970. Báo bán chạy lắm, tôi sắm được chiếc xe hơi Simca. Thời đó vậy là bảnh lắm rồi”, ông khoe bằng giọng thật vui.

Ngồi trong ngôi nhà trên đường Lê Quang Định, Q.Gò Vấp của cha mẹ để lại, nay đến lượt ông và con cháu sinh sống, họa sĩ Lê Minh bùi ngùi. Cả đời ông gắn bó với nơi này. Ngôi nhà cất giữ kỷ niệm những ngày ông gò lưng ngồi vẽ báo, kiếm được đồng tiền đầu tiên về phụ giúp mẹ, lo cho gia đình. Con trai út – họa sĩ Lê Phong theo nghiệp bố khiến ông mãn nguyện. Lập gia đình từ năm 1957 nhưng đến giờ theo lời bà Lê Kim Hoa, một y tá trước đây thì: “Ổng chưa bao giờ phản bội vợ con qua ngần ấy năm chung sống. Tôi nghĩ mình là người vợ hạnh phúc”.

75 năm sống trên mảnh đất Sài Gòn, trải qua bao thăng trầm, biến cố, có nhọc nhằn và có cả niềm hân hoan, họa sĩ Lê Minh thổ lộ ông gắn bó nơi này như máu thịt. “Một mảnh đất mình đã chào đời, trải qua thời niên thiếu, rồi thành danh và bây giờ vui vầy với con cháu làm sao không mang cảm giác thân thương? Tôi tự hào mình là người Sài Gòn lắm”.

Họa sĩ Lê Minh đã tổ chức triển lãm tranh lụa năm 1990 và tranh sơn dầu vào tháng 9.2008 với tên gọi Đất phương Nam tại TP.HCM. Tranh ông khiến người xem xao lòng trước cảnh làng quê hiền hòa, bờ sông an bình, những con người chất phác. Đặc biệt tranh thiếu nữ đầy nét lãng du, bay bổng, mềm mại. Ông là một trong số ít họa sĩ vẽ tranh minh họa trên báo mang đậm hồn cốt của người Sài Gòn.

Đỗ Tuấn (Báo Thanh Niên)

Categories: Con người | Leave a comment

Cây đại thụ của nhiếp ảnh Sài thành

Nhắc đến ông, giới nhiếp ảnh Sài Gòn đều ngả mũ. Ông đại diện cho lớp phóng viên ảnh sau cùng của các tờ báo Pháp phát hành ở Đông Dương còn sống.

Chụp ảnh phóng sự từ 60 năm trước

Bước sang tuổi 90, sức khỏe yếu do vừa bị đột quỵ đầu năm 2012 nhưng nhắc đến nhiếp ảnh, nghệ sĩ Nguyễn Mạnh Đan vẫn say sưa như ngày đầu cách đây gần 70 năm, ông đến với nghệ thuật của ánh sáng, bố cục, màu sắc.

“Năm 1950, từ Hà Nội tôi được điều động vào Sài Gòn làm phóng viên ảnh cho tờ Indochine Sud-Est Asiatique do trong này thiếu người làm. Ngày đó, rất ít phóng viên ảnh là người Việt, có chăng giờ cũng qua đời hết rồi, chỉ mình tôi còn sống”, ông cười chòm râu bạc rung rung theo nhịp lắc của bàn tay gầy gò. Năm 1954, ông đưa cả vợ con vào Sài Gòn sinh sống sau khi có vị trí vững chắc tại tòa soạn.

Image

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Mạnh Đan – Ảnh: Nhân vật cung cấp

Chiếc máy ảnh Rolleiflex của Đức theo chân ông bôn ba khắp mọi miền đất nước ngày ấy. Ông kể thời đó chưa có đèn flash hiện đại như bây giờ, phóng viên phải thủ sẵn cả túi bóng đèn magnesium, chụp một lần rồi bỏ. “Có khi chụp nhiều quá, xong việc mấy ngón tay tôi gần như phỏng vì phải thay đèn liên tục”. Mà có Rolleiflex chụp đã là mừng. Ông Mạnh Đan còn nói thêm thời chụp ảnh bằng máy có vỏ bọc gỗ. Trước tiên, bỏ diêm sinh (thuốc pháo) vào chén inox. Theo kinh nghiệm cứ nửa chén diêm sinh thì mở khẩu độ ống kính f/5.6. Người chụp một tay mở nắp ống kính, xoay 1/2 vòng hoặc 1 vòng cho ánh sáng vào, tay kia đốt diêm sinh để ánh sáng bùng lên. Vậy mà vẫn cho ảnh sáng đẹp như trong studio hiện đại ngày nay.

Nhiều bức ảnh của Nguyễn Mạnh Đan chụp thời ấy được tạp chí nổi tiếng thế giới của Pháp là Paris Match đăng trong các bài viết về Đông Dương. Ông nhìn nhận phóng viên ảnh thời bình rất ít có cơ hội nắm bắt những khoảnh khắc quan trọng của lịch sử, bởi phải gặp những biến cố lớn ảnh phóng sự mới thể hiện rõ chức năng của nó.

Từ năm 1950 đến 1958, ông trở thành một trong số tay máy nổi tiếng ở Sài Gòn với những bức ảnh đăng trên báo Pháp. Tuy nhiên sau đó, người Pháp rút khỏi Việt Nam. “Tôi buộc phải từ bỏ nghề báo. Hỏi ông chủ bút người Pháp rằng nên làm gì để sống với nghề chụp ảnh, ông khuyên tôi nên nắm bắt nét đẹp của Việt Nam. Rồi ông ấy tạo điều kiện để tôi thực hiện cuộc triển lãm, mời đại diện đại sứ quán các nước đóng tại Sài Gòn đến thưởng thức và mua ảnh. Nhờ vậy, tôi ổn định cuộc sống, có tiền để mở ảnh viện Mạnh Đan trên đường Điện Biên Phủ ngày nay”, ông nói.

Ba đời cầm máy

Cùng thời với ông có các tay máy cũng rất nổi tiếng như Nguyễn Cao Đàm, Trần Cao Lĩnh, Nguyễn Văn Chiêm, Bàng Bá Lân, Phạm Văn Mùi… nhưng có thể nói, đến giờ chỉ còn mình ông là thách thức với thời gian. Những gì Nguyễn Mạnh Đan để lại cho đời, cho nhiếp ảnh Việt Nam là rất đáng trân trọng.

Nghiêm khắc và cực kỳ kỹ tính trong nghề nghiệp, ông rất ít khi nhận học trò vì ngoài tài năng, ông còn phải xem xét tính cách cũng như tư cách đạo đức của người muốn theo học trước khi chỉ dạy. Do vậy, học trò ông tính đến nay chỉ đếm trên đầu ngón tay mà đa phần ai cũng thành danh như nghệ sĩ nhiếp ảnh Đào Hoa Nữ, nhiếp ảnh gia Hoàng Trưởng, phóng viên ảnh thể thao Dư Hải…

Nguyễn Mạnh Đan có 9 người con, trong đó 6 người con trai theo nghiệp bố. Đó là những nhiếp ảnh gia cũng có tên tuổi tại Sài Gòn trước đây và hiện nay như: Mạnh Sơn, Trung Vinh, Mạnh Quỳnh, Mạnh Ngọc, Huy Quang, Mạnh Sinh, trong đó Mạnh Sinh hiện là Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh TP.HCM.

Thập niên 1980-1990, nghệ sĩ nhiếp ảnh Mạnh Đan là thành viên của Hội đồng nghệ thuật Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh VN. “Ngày còn làm ban giám khảo các cuộc thi ảnh, tôi không thiên vị cho bất cứ ai hay bất cứ tấm ảnh nào. Cho dù đó là ảnh chụp lãnh tụ nhưng không đẹp, bố cục không chặt tôi đều đánh rớt”, ông Mạnh Đan nói thêm.

Thế hệ thứ ba của gia đình Mạnh Đan bắt đầu cầm máy từ vài năm trước. Mạnh Nguyên, Mạnh Lâm hiện theo nghề của ông nội, cũng rất vững vàng về kỹ thuật nhiếp ảnh. Anh Mạnh Sinh nhớ mãi lần theo cha chụp ảnh xuyên suốt chiều dài đất nước. “Tôi theo cụ vừa chăm lo sức khỏe vừa học hỏi kinh nghiệm chụp ảnh nghệ thuật. Năm 1986, lúc đất nước còn rất khó khăn, tôi và cụ cùng một số học trò trong đó có cả chị Đào Hoa Nữ thuê xe 25 chỗ đi từ nam ra bắc. Rong ruổi đến tận Điện Biên, Lai Châu, Mộc Châu, Sa Pa… trong 45 ngày. Tôi ấn tượng nhất là phải mua hàng vài trăm lít xăng chất phía sau xe, vừa đi vừa lo xe có thể phát cháy nổ bất cứ lúc nào. Ngày đó làm gì có trạm xăng dầu nhiều như bây giờ, xăng khan hiếm lắm. Cả đoàn phải mua theo gạo, mắm muối, đem cả nồi niêu xoong chảo để đến đâu là nấu nướng đến đấy. Gặp dòng suối hay con sông nào nhảy xuống tắm giặt. Nhưng đi rồi mới thấy đất nước mình tuyệt đẹp. Ngày đó thiên nhiên còn hoang sơ lắm, chưa bị tàn phá như bây giờ”.

Cuộc trò chuyện với nghệ sĩ nhiếp ảnh Mạnh Đan không thể kéo dài hơn do sợ ông mệt. Ông nhắn gửi đến thế hệ những người cầm máy trẻ: “Chụp ảnh thể loại nào cũng vậy, phải gửi hết tâm hồn vào đấy, nếu không bức ảnh sẽ vô hồn. Việt Nam chỉ mạnh ở thể loại ảnh nghệ thuật do biết khai thác vẻ đẹp của đất nước, của con người. Tôi hy vọng trong tương lai, thế hệ trẻ sẽ làm nên chuyện ở thể loại ảnh báo chí, ảnh phóng sự, ảnh khoa học. Có như thế nhiếp ảnh VN mới phát triển toàn diện và bền vững. Đừng quá chạy theo thành tích, huy chương mà sa vào lối mòn trong sáng tạo, đặc biệt khi chụp ảnh nghệ thuật. Tôi gần đất xa trời rồi chỉ đau đáu một mối tình với nhiếp ảnh, thủy chung với nó suốt 70 năm dài nên luôn mong người tình của mình mãi đẹp, mãi xinh”.

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Mạnh Đan sinh tại Nam Định, từng đoạt hơn 70 huy chương nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế từ năm 1959 đến 1963. Ông còn nhận Huy chương vì sự nghiệp Văn học và Nghệ thuật VN năm 1997, thực hiện 5 tập sách ảnh: Việt Nam khói lửa (1969), Hình ảnh kinh tế Việt Nam (1974), Quê hương Việt Nam (1996), Hình ảnh Việt Nam (2003), Non sông nước Việt (2011).

Đỗ Tuấn (Báo Thanh Niên)

Categories: Con người | Leave a comment

Trường nữ Trung học Lê Văn Duyệt

Trường nữ trung học Lê Văn Duyệt nay là trường trung học phổ thông Võ Thị Sáu – 95, Đinh Tiên Hoàng, P3, Q. Bình Tạhnh, Tp. HCM. Đây được xem là một trong những trường trung học phổ thông có chất lượng giáo dục tốt hiện nay.

Image

Trường nữ trung học Lê Văn Duyệt ở số 95 – Đại lộ Lê Văn Duyệt, Gia Định, nay là số 95 – Đinh Tiên Hoàng, Q. Bình Thạnh.

Lịch sử

Thời Việt Nam Cộng hòa

- Năm 1957: trường được thành lập, lúc ấy mang tên trường Trung học Trương Tấn Bửu tọa lạc trên đường Chi Lăng, gần Lăng Ông thuộc xã Bình Hòa tỉnh Gia Định, nơi thờ phượng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, nằm trong khuôn viên của trường Tiểu học Nam tỉnh lỵ, nay là trường THCS Lê Văn Tám. Ban đầu trường có 3 lớp đệ thất gồm lớp nam và lớp nữ.

- Năm 1959: trường vẫn nằm tại vị trí trên nhưng tách nam sinh ra học tại trường Hồ Ngọc Cẩn nay là trường Nguyễn Đình Chiểu, còn nữ sinh có 6 lớp vẫn học tại trường.

- Năm 1960: tòa tỉnh trưởng Gia Định đã cấp cho môt khu đất để xây trường, trên một diện tích rộng lớn, vốn là đầm rau muống, trường được xây dựng mới, dời về số 95, đại lộ Lê Văn Duyệt, GIa Định, nay là đường Đinh Tiên Hoàng và đổi tên thành trường Nữ Trung học Lê Văn Duyệt, vừa có cấp II và cấp III, với đồng phục áo trắng.

- Năm 1963: vì trường chưa có lớp đệ nhất nên học sinh sau khi học lớp đệ nhị phải chuyển qua trường Trưng Vương để học đệ nhất.

- Vài năm sau 1963: thì trường đã có lớp đệ nhất và học sinh không còn phải từ giã trường của mình sớm một năm để qua trường Trưng Vương học lớp đệ nhất nữa.

Image

Nữ sinh Lê Văn Duyệt năm 1970

Image

Liên hoan lớp khoá 68, trường Lê Văn Duyệt

* Những hiệu trưởng đầu tiên từ khi trường mới thành lập đến năm 1977:

- Hiệu trưởng đầu tiên là thầy Lê Ngọc Toản. Lớp nam sinh sau đó đã dược chuyển về Hồ Ngọc Cẩn.

- Năm 1959 – 1960: cô Bùi Thị Lắm đã trở thành vị Hiệu trưởng thứ nhì, đã đích thân khánh thành ngôi trường khi trường được dời qua vị trí mới

- Từ cuối tháng 11 năm 1963 đến đầu năm 1964: Giáo sư Phạm Thị Diệu Linh rồi sau đó cô được điều về trường Trưng Vương làm Giám Học.

- Vị Hiệu trưởng kế tiếp là cô Nguyễn Ngọc Hương

- Năm 1977: Trần Hoàng Mai đã trở thành vị Hiệu trưởng cuối cùng.

Sau năm 1975

- Năm 1975: trường được đổi tên thành trường cấp III Võ Thị Sáu.

- Năm học 1978 – 1979: trường giải thể cấp II, thu nhận cả nam sinh và nữ sinh, trở thành trường Trung học Phổ thông Võ Thị Sáu.

- Từ 1975 – 1999: trường có 16 phòng học, một số phòng chức năng, lúc nhiều học sinh nhất có 37 lớp cả 3 khối.

(Tổng hợp)

Categories: Trường học | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com. The Adventure Journal Theme.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.